hiểu biết về mình


HIỂU BIẾT VỀ MÌNH

Nt. M. Rose Vũ Loan

 

            Ngày xưa, các hiền triết Hy Lạp luôn nhắc nhở con người rằng: “Muốn tìm ra chân lý thì trước hết hãy trở về với mình để tự biết mình”. Thật ra chỉ một mình Thiên Chúa mới là Đấng tự biết mình cách trọn vẹn. Còn chúng ta, biết đúng về mình là một điều hết sức khó khăn và mơ hồ. Tuy nhiên, trong cái nhìn của Kitô giáo, trở về với chính mình và biết mình không chỉ là khám phá bản thân mình mà còn là gặp gỡ Thiên Chúa nữa. Vì thế thánh Âugutinh đã cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con”.

            Chữ “Biết” trong Kinh Thánh không có nghĩa thuần túy trí thức như trong triết học. Nhưng có nhiều ý nghĩa khác nhau và nó bao hàm yếu tố tình cảm, ước muốn, đồng thời diễn tả một liên hệ mật thiết được lồng vào khung cảnh của đời sống. Ước muốn được biết Thiên Chúa diễn tả mối thân tình giữa Thiên Chúa và con người. Cũng vậy ước muốn được biết mình diễn tả khát vọng được khám phá chính bản thân mình trong những tương quan giữa mình và người khác hay Một Đấng Khác. Vì thế lời cầu nguyện của thánh Âugutinh nhắc nhở chúng ta một chân lý cao cả về “con người là hình ảnh của Thiên Chúa” (St 1, 26).Chỉ khi nào biết trở về với lòng mình, con người mới có thể gặp gỡ Thiên Chúa cách trọn vẹn, vì chính nơi nội tâm, trong chốn thâm cung vĩnh hằng mà con người gặp lại được Thiên Chúa của mình.

            Các nhà tu đức cho rằng: biết mình là đầu mối khôn ngoan, là điều kiện đầu tiên cho mọi sự tiến bộ. Nhưng biết mình không phải là điều dễ dàng. Không ai gần tôi cho bằng tôi, nhưng cũng có thể xảy ra là chính tôi lại là người xa lạ với tôi hơn ai hết. Vậy làm thế nào để biết mình?

            Trong tác phẩm “Nói với chính mình”, Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần đã đưa ra năm cách để biết mình thường được người ta dùng như sau [1].

·       Cách thứ nhất là so sánh mình với kẻ khác. Khi thấy không bằng họ thì coi mình kém. Thấy không thua họ thì yên trí là mình hơn người khác. Nhưng cách biết mình này thật đáng nghi ngờ: một người Pharisiêu và một người thu thuế vào đền thờ cầu nguyện. Ông Pharisiêu so sánh mình với người thu thuế thì thấy mình hơn hẳn, liền nói với Chúa rằng: con không như tên thu thuế kia. Rốt cuộc người thu thuế lại được Chúa thương hơn (Lc 18, 9-14). Thế là ông Pharisiêu đã lầm lẫn trong việc biết mình. Vậy ta không tin vào cách so sánh mình với người khác để biết mình, vì dễ rơi vào thành kiến, thiên vị và chủ quan.

·       Cách thứ hai là dựa vào dư luận. Khi người ta nói về tôi thế nào thì tôi cũng coi mình là như thế. Nhưng Phúc âm dạy ta phải coi chừng dư luận. Trong lịch sử công giáo lần đầu tiên dư luận đại chúng được phát biểu là vấn đề nên tha Giêsu hay Baraba. Kết quả là tất cả đã lên án Chúa Giêsu. Thật không đúng khi chủ trương lấy ý kiến đại chúng làm tiêu chuẩn để phân biệt lành dữ. Dư luận nhiều khi lại là thiếu trách nhiệm.

·        Cách thứ ba là căn cứ vào các điều răn để biết mình xem có phạm gì nặng không. Nếu không phạm gì nặng thì là thánh, hay ít ra cũng chẳng đến nỗi nào. Nhưng vào thời Chúa Giêsu, những người thu thuế và đĩ điếm đều bị xếp vào hạng người tội lỗi. Còn Pharisiêu và các thầy tư tế thì được dân chúng tôn trọng như các bậc đạo đức mô phạm. Thế mà có lần Chúa nói với các vị này rằng: “Ta nói thực với các ông, những người thu thuế và đĩ điếm sẽ vào thiên đàng trước các ông” (Mt 21, 31). Như vậy cách nhìn của Chúa không giống cách nhìn của con người.

·        Cách thứ tư là căn cứ vào nếp sống hình thức hằng ngày để biết mình. Hễ thấy mình giữ đúng kỷ luật, năng tham dự phụng vụ, chu toàn các giờ kinh nguyện là dấu tốt. Nếu không, là xấu. Nhưng cách này cũng không làm ta yên trí. Còn ai giữ luật cặn kẽ bằng giới Pharisiêu! Thế mà Chúa đã mắng họ là “những mồ mả ngoài thì sơn trắng nhưng bên trong thì đầy xương hôi tanh” (Mt 23, 27). Nếp sống hình thức chỉ là cái vỏ, là mặt nạ. Nó không phải là chính ta.

·        Cách thứ năm là căn cứ vào lương tâm. Hễ lương tâm an ổn là dấu tốt. Hễ lương tâm bứt rứt không an, là dấu tôi có gì trục trặc. Nhưng cách này cũng không chắc chắn. Có khi lương tâm rất bình an, nhưng biết đâu lương tâm cũng có lúc sai lầm hay chai đá? Và dù lương tâm mình thuộc loại chính xác, thì tình trạng yên ổn của nó có thể cũng rất chủ quan. Chính thánh Phaolô cũng nói: “Thực, lương tâm tôi không trách tôi điều gì. Nhưng không vì thế mà tôi là người công chính. Chỉ có Chúa là Đấng phán xét tôi” (1 Cr 4, 4).

Như vậy cả 5 cách trên đều không bảo đảm. Vậy ta phải làm gì để biết mình?

Kinh Thánh cho ta câu trả lời: Saolô từ Damas đi Giêrusalem bị một ánh sáng từ trời đánh ngã. Ngài hỏi: Chúa muốn con làm gì! Rồi, ba ngày đêm không ăn uống, chỉ suy nghĩ và cầu nguyện. Chính trong bầu khí cô tịch nội tâm đó, thánh Phaolô đã để lòng mình đối diện với Chúa và Ngài được biết rõ mình. Từ đó, Ngài đã trở lại với Chúa và đã nên thánh (Cv 9, 1-30).

            Vậy muốn biết rõ mình, ta hãy thử dùng cách của Phaolô là suy nghĩ và bàn hỏi với Chúa trong thinh lặng, nơi cõi thâm sâu của tâm hồn. Chúa là đường, là sự thật và Chúa rất thương ta, nên khi nhìn vào Chúa, ta sẽ thấy rõ mình hơn. Sự biết mình này vừa rõ, vừa gợi niềm trông cậy khiêm tốn, vừa êm đềm, thánh thiện và không làm ta kiêu căng, sợ hãi hay bối rối. Một tâm hồn năng tìm gặp Chúa, năng hỏi han Chúa trong thinh lặng nội tâm sẽ nhờ đó mà biết mình, biết đời và biết Chúa. Biết mình bằng con đường cầu nguyện, bằng thinh lặng nội tâm, có sức biến đổi tâm hồn chúng ta cách sâu sa, vì cầu nguyện sẽ giúp chúng ta khám phá ra chân giá trị của mỗi người là hình ảnh của Thiên Chúa, đồng thời thúc đẩy ta khát khao được nên giống Chúa. Sự trầm lắng của cầu nguyện sẽ luyện tập cho chúng ta có cái nhìn trong suốt hơn trên mọi sự vật, mọi biến cố, mọi người và chính bản thân mình. Đó là biết nhận ra Thiên Chúa luôn hoạt động, luôn tái tạo, đổi mới và dẫn đưa nhân loại đến sự sung mãn trong Đức Kitô.

            Ngoài ra, để biết mình, chúng ta cũng cần đến những người sống chung quanh. Cuộc sống là một chuỗi những tương quan. Con người có tìm gặp lại bản thân và có hạnh phúc hay không là tùy thuộc vào những mối tương quan với tha nhân được hài hòa và trong sáng. Xét cho cùng, cái tôi ích kỷ luôn là nguyên nhân cắt đứt mọi tương quan lành mạnh và dẫn đến sự tự hủy chính mình. Không ai trở thành người đúng nghĩa nếu cứ giam mình trong tính ích kỷ hẹp hòi. Mỗi người chúng ta vượt ra khỏi cái tôi đó và nhận thức mối liên hệ của mình với tha nhân.

            Một cuộc sống xứng với phẩm giá con người là một cuộc sống có trách nhiệm, luôn nhận thấy hành động của mình có liên quan đến người khác. Một câu nói, một cử chỉ, một thái độ tiêu cực đều ít nhiều có tác hại đến tha nhân. Suy tôn bản thân, khẳng định cái tôi đến độ phủ nhận người khác, đó là sự ác. Vì vậy, khi ta phủ nhận hay coi thường người khác thì một cách nào đó ta phủ nhận và coi thường Thiên Chúa. Ta không thể nhìn nhận Thiên Chúa nếu ta từ chối tha nhân: “Nếu ai nói tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy”. (1 Ga 4, 20).

            Yêu thương là hướng về người khác, là mở ra trước sự hiện diện của họ. Mở ra là cái nền của đạo đức, còn khép kín đưa đến sự tội. Vì thế, chẳng có tội lỗi nào mà không do vị kỷ, do chỉ biết tìm mình.

            Từ bỏ cái tôi ích kỷ là một quá trình lột xác. Cũng như con sâu muốn hóa bướm, nó phải lột xác mới có thể bay bổng vào bầu trời trong xanh vô tận. Mở ra, đó là điều kiện trưởng thành, chẳng những về mặt đạo đức mà còn về mặt tâm lý nữa. Quả thật, con người không thể trưởng thành và quân bình tâm lý nếu không mở lòng đón nhận người khác. Sự khép kín con mắt, khép kín cõi lòng làm cho cái tôi trở nên èo ọt và mất đi sự trung dung trong mọi lãnh vực.

          Trong mọi sự, hạnh phúc của con người tùy thuộc vào khả năng biết mình, nghĩa là ý thức mối quan hệ của mình với Thiên Chúa và với tha nhân. Chính những quan hệ này dạy ta bài học biết thoát khỏi ốc đảo của cái tôi ích kỷ. Thế nhưng, muốn có sự hài hòa giữa “tôi với Thiên Chúa và người khác”, thì chính tôi phải thay đổi cái nhìn của mình. Tha nhân không là dụng cụ để ta sử dụng hay đòi hỏi, nhưng là đối tượng cần được yêu mến và là tình thương sưởi ấm cuộc sống đơn tẻ của ta. Nếu biết mở lòng đón nhận tha nhân trong chính cái khác biệt của họ, ta sẽ trở nên giàu có, phong phú và triển nở. Vì chính những khác biệt đó đã bổ sung, thanh luyện, uốn nắn và làm nên mỗi người chúng ta. Tiếp cận với tha nhân ta không bị tha hóa, nhưng lại được thăng hoa và trở nên chính mình thực sự.

            Tóm lại, kinh nghiệm cầu nguyện của thánh Âugutinh: “Xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con” cho ta thấy một sự hài hòa trong đời sống thiêng liêng, một sự thăng hoa của một niềm tin sống động, và sau cùng, đó là một nghệ thuật sống tốt, sống thâm sâu mối tương quan với mọi người.

 

 



[1] Trích trong  Nói với chính mình của ĐC Bùi Tuần, Tủ sách Đại Kết, 1993, trang 50-54



    


94 Bành Văn Trân, Phường 7, Quận Tân Bình, TpHCM

ĐT : 0838640000

Email : fmsrchvn@yahoo.com

            fmsrchvn@gmail.com