ĐƯỢC SAI ĐI VỚI NHIỆT THÀNH TÔNG ĐỒ

Nhiệt thành là một trong những yếu tố căn bản cần thiết để đưa một người đến thành công. Nhờ đó, người ta có thể chu toàn trách nhiệm được giao cách vui tươi và sáng tạo. Những khó khăn, trở ngại được vượt qua một cách dễ dàng. Người nhiệt tâm không sợ hy sinh, sẵn sàng đương đầu với mọi thử thách để đi đến mục tiêu đời mình. Nếu thiếu lòng nhiệt thành người ta dễ rơi vào tình trạng thụ động, lơ là chểnh mảng, thích tìm an nhàn hưởng thụ. Mục tiêu và lý tưởng ban đầu dễ dàng bị coi thường và đánh mất.

Người tông đồ khi được Chúa sai đi chắc chắn mang trong mình nhiệt huyết thiêng liêng. Bầu nhiệt huyết này được trao tặng như món quà nhưng không, gói trọn trong ơn gọi Thánh Hiến của  mình. Thế nhưng, cũng như ơn gọi Thánh Hiến, lòng nhiệt thành tông đồ không phải là một báu vật hay kho tàng. Người ta không thể thủ đắc nó trong chốc lát hay trong một khoảnh khắc thời gian. Nhưng nó là một tiến trình lắng nghe và đáp trả mỗi ngày. Người tông đồ đích thực luôn cẩn thận dưỡng nuôi và tập luyện liên lỉ từng phút giây để lớn lên, trưởng thành hơn trong sự say mê lý tưởng của mình. Nhờ thế, họ luôn biết sống và làm việc theo tinh thần của Chúa Giêsu. “Khi có lửa nhiệt tình rực cháy trong lòng, họ sẽ tìm ra được những phương cách truyền giáo hữu hiệu, sẽ dám dấn bước tới các địa chỉ mới lạ, dám chèo ra chỗ nước sâu (x. Lc 5, 6). Để làm được điều đó, họ phải nuôi dưỡng “lửa” trong lòng. Đó là lửa yêu mến Chúa hết lòng và khao khát cho phần rỗi các linh hồn”[1]

Đây không phải là chuyện đơn giản đối với xã hội ngày nay vì như Đức Thánh Cha Phaolô VI nói rằng: “Việc loan báo Tin Mừng trong thời đại chúng ta gặp nhiều trở ngại, một trong những trở ngại lớn là sự thiếu nhiệt tình. Nó càng trầm trọng bởi lẽ nó phát xuất từ bên trong, nó biểu lộ sự mệt mỏi và chán nản, sự làm lấy lệ và hờ hững, và nhất là sự thiếu niềm vui và hy vọng. Vì vậy chúng tôi khuyên những ai có nhiệm vụ loan báo Tin Mừng ở bất cứ cấp bậc nào, hãy nuôi dưỡng nhiệt tình cho tâm hồn mình.”[2]  Là những nữ tu của Chúa, chúng ta  được Chúa mời gọi, tuyển chọn để ở với Người và được Người sai đi. Vậy chúng ta phải làm gì để nuôi dưỡng lòng nhiệt tình tông đồ. Khi được sai đi, chúng ta phải làm sao để không rơi vào tình trạng mệt mỏi chán chán nản, làm lấy lệ hờ hững… nhưng luôn hăng say rao giảng trong niềm vui và hy vọng. Trong giới hạn cho phép, chúng ta cùng nhau nhìn lại cách thức nuôi dưỡng lòng nhiệt thành qua các mối tương quan đối với Thiên Chúa, tha nhân và chính bản thân mình. 

I. NHIỆT THÀNH VỚI THIÊN CHÚA

Người nhiệt thành là người luôn có lửa yêu mến Chúa hết lòng. Để có được ngọn lửa đó chúng ta cần xác tín rõ ơn gọi của mình, sự hiện diện của Chúa Kitô phục sinh và xác tín vào tình yêu nhưng không của Chúa dành cho mình.


1. Xác tín vào ơn gọi đời sống Thánh Hiến:

Theo tông huấn Vita Consecrata thì chính Chúa Cha đã kêu gọi chúng ta[3]. Ngài không ngừng ban Thánh Thần nhào nặn trong tâm hồn chúng ta tâm tình của Chúa Giêsu, Người Con Duy Nhất của Ngài. Đấng đã dùng cả cuộc đời để thực hiện thánh ý Chúa Cha. Xác tín rõ công việc tông đồ của mình là tiếp nối từ nguồn  mạch Giêsu. Đấng đã không ngại phải thiệt  thân vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa. Công việc chúng ta dù là lớn lao hay tầm thường nhỏ bé vẫn mang một giá trị cứu độ. Vì chúng ta đã được sai đi chứ không phải tự ý mình đi. Khi thực sự sống niềm xác tín này, chúng ta sẽ kiên trì trong vui tươi, khôn ngoan và can đảm  bất chấp những khó khăn trước mắt; luôn hết tình gắn kết với Đấng đã đem lửa đến trần gian và cùng Ngài làm cho ngọn lửa tình yêu bừng cháy mãi trong mọi tâm hồn.  

2. Xác tín về sự hiện diện của Chúa Kitô phục sinh:

Cuộc sống quá nhiều khó khăn phức tạp, che dấu đi sự hiện diện sống động của Thiên Chúa. Nếu không có một đức tin vững chắc và nền linh đạo thâm sâu, chúng ta dễ rơi vào thái độ bi quan, tất định và hoài nghi[4]. Khi chúng ta đã cố gắng mà không thấy có gì thay đổi, thì cám dỗ bỏ cuộc dễ nẩy sinh. Những lý do trước mắt có thể kéo ghì chúng ta ở lại tiện nghi, an nhàn, lười biếng… Đây là thái độ tiêu cực, tự hủy diệt, vì không ai có thể sống mà không có hy vọng: Cuộc đời sẽ trở nên vô nghĩa và không thể chịu đựng nổi, nếu chúng ta nghĩ rằng không cái gì thay đổi được. Sự xác tín rằng Đức Giêsu Kitô đã chiến thắng tội lỗi, sự chết sẽ giúp đẩy lùi sự bất mãn một cách vu vơ và ích kỷ trống rỗng. Niềm vui và hy vọng tràn đầy vào Đấng Toàn Năng giúp vượt qua những giờ phút cô đơn, buồn chán, thất vọng. Bởi xưa kia, Ngài đã từng sống, từng vất vả, từng phải đối diện với sự dữ, từng mang thân phận hẩm hiu như chúng ta. Nhưng Ngài đã chiến thắng vinh quang và là nguồn suối hy vọng[5] của mọi người. [6]  Tin Mừng kể lại rằng khi các tông đồ bắt đầu đi rao giảng, Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng” (Mc 16:20). Đó cũng là điều xảy ra hôm nay. Ngài sẽ không từ chối giúp đỡ chúng ta trong việc thực thi sứ mạng Ngài đã uỷ thác cho chúng ta[7].

3. Xác tín vào tình yêu nhưng không của Thiên Chúa:

Một người hạnh phúc thật sự khi cảm thấy mình được yêu thương, trân trọng và đáng quí. Chúa Giêsu đã từng nói với chúng ta về tình yêu khắng khít đậm đà, Ngài dành cho những ai bước theo Ngài: “Như Cha đã yêu thày thế nào thì thày cũng yêu con như vậy”. Tình yêu đó nâng chúng ta từ thân phận khốn cùng lên hàng bạn hữu: “Thày không gọi các con là tôi tớ nữa nhưng là bạn hữu”. Từ đó, cho phép chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha và sống tình con thảo với Ngài. Có gì an bình hạnh phúc hơn khi được trở về với vòng tay Cha sau những tháng ngày vật lộn, bôn ba với cuộc sống. Cha Henri Nowen viết lại kinh nghiệm trở về[8], khi nhìn bức tranh người con hoang đàng  của Rembrandt. Ngài thấy mình cần vòng tay yêu thương của Cha, cần sự tha thứ, cảm thông… Ước gì những nữ tu của Chúa cũng biết trở về với Thiên Chúa là Cha sau những mệt mỏi rã rời. Tìm về để ngụp lặn trong bàn tay yêu thương, để lấy lại sức mạnh và tiếp tục vui bước trong hành trình dâng hiến. Đó chính là nguồn trợ lực không bao giờ cạn, giúp chúng ta sống an vui và hạnh phúc giữa những vất vả thường ngày. Bất chấp dòng đời có đổi thay hay lòng người có thay đổi thì chính Chúa vẫn là tất cả của chúng ta.

THỰC HÀNH CỤ THỂ

1. Để có được sự xác tín vào ơn gọi của mình, chúng ta nên tận dụng những giờ phút ngắn ngủi trong ngày để nhớ lại  hồng ân ơn gọi Chúa đã dành cho mình.

2. Để xác tín vào sự hiện diện của Chúa Kitô Phục Sinh, chúng ta hãy cho Ngài cùng hiện diện, hoạt động với chúng ta bằng những tác động yêu mến (nguyện tắt).

3. Năng nghĩ về tình yêu của Chúa qua những người thân yêu, những chị em bên cạnh dành cho mình hơn là những thứ khác. 

II. NHIỆT THÀNH VỚI THA NHÂN

Sống trong mối tương quan gần gũi, sống động với Chúa Kitô phục sinh, chúng ta được thúc đẩy đến với tha nhân bằng một tình yêu vô vị lợi, luôn tôn trọng sự khác biệt để tạo nên sự phong phú và nỗ lực đưa tha  nhân đến với nguồn mạch sự sống là chính Chúa.  

1. Một tình yêu vô vị lợi: Người nữ tu nhiệt thành đến với tha nhân bằng một tình thương mến phát xuất từ nguồn mạch là  Thiên Chúa. Chính suối nguồn đức ái này giúp chúng ta yêu thương và phục vụ tha nhân bằng một tình yêu vô vị lợi; chấp nhận hy sinh để đem lại hạnh phúc cho người khác. Trong khi thế gian tìm cách lợi dụng người yếu thế để bóc lột, thu lợi nhuận cho riêng mình, thì dưới mắt người nữ tu của Chúa, ai cũng là anh chị đáng được tôn trọng và yêu thương. Nỗ lực cố gắng làm điều tốt lành cho tha nhân, nhất là những người thấp bé, là điều luôn được chúng ta nhắm tới. Bởi những ai thuộc về Chúa thì luôn thâm tín rằng Thiên Chúa muốn cho mọi người con của Ngài được hạnh phúc ngay trong đời sống thực tại hàng ngày, mặc dù họ được kêu gọi để hưởng sự viên mãn trong cõi vĩnh hằng[9].

2. Tôn trọng người khác: Trân trọng sự khác biệt là một trong những nét tế nhị và độc đáo của đức ái Chúa Kitô. Được thúc đẩy mạnh mẽ bởi nguồn mạch đức ái, người nữ tu có nhiệt huyết tông đồ không thể nào yên tâm khi thấy anh em mình đau khổ. Họ luôn cố gắng trau dồi và học hỏi để mở rộng khả năng yêu thương và phục vụ tha nhân cách hữu hiệu. Một tình thương không áp đặt, đè nén, nhưng biết trân trọng thói quen truyền thống, cách hành xử của một con người (có truyền thống văn hóa, gia đình, ngôn ngữ, bản sắc dân tộc riêng). Nhờ kinh nghiệm về Tình yêu vô vị lợi của Thiên Chúa, người tông đồ  biết từ bỏ mình để người khác được lớn lên trong ân sủng và tình yêu. Đây cũng là cơ hội để người nữ tu khám phá và chiêm ngắm sự phong phú của công trình Thiên Chúa tạo dựng nơi anh chị em đồng loại. Nó thúc đẩy chúng ta bỏ đi khuynh hướng lấy mình làm trung tâm hay áp đặt người khác.

3. Hướng đến nguồn tình yêu đích thực: Chăm chút cho đời sống thường ngày, người nữ tu nhiệt huyết luôn thao thức dẫn tha nhân đến nguồn mạch chân lý là chính Thiên Chúa. Mặc dù không thiếu những khó khăn, những cản trở bên ngoài cũng như trong chính nội tâm, người tông đồ đầy nhiệt huyết xác định rõ sứ mệnh đem tình yêu Thiên Chúa đến và giúp tha nhân cảm nghiệm hạnh phúc được làm con Chúa trong gia đình Giáo Hội. Họ không bao giờ bỏ qua cơ hội mà không làm điều gì để hé mở dung nhan Thiên Chúa cho người khác. Những cách thức hành động đôi khi rất đơn giản, tự nhiên nhưng phát sinh một năng lực truyền giáo rất mạnh mẽ. Nó như những hạt giống âm thầm được gieo vào lòng đất, không ồn ào,  náo động, hay khua chiêng đánh trống[10]. Thao thức sống tốt để thông truyền kinh nghiệm cho người khác như  Cha Joseph Gross đã nói khi giảng tĩnh tâm cho các nữ tu: “Chị em hãy sống chân lý và dạy cho người khác sống như vậy. Có trăm ngàn linh hồn thèm khát được sống như thế. Chị em hãy tỏ lòng biết ơn Chúa bằng cách giúp người khác hưởng nhờ bí quyết mà Chúa mặc khải cho chị em, đồng thời dạy các trẻ em cũng biết điều này. Đem một linh hồn về với Chúa là việc cao cả. Liệu chừng chị em có thể dửng dưng đứng nhìn xem bao người, bao giáo dân có thiện chí lăn lộn dưới đất hay chị em muốn nhìn thấy họ vui vẻ đứng lên để phục vụ Chúa Kitô? Chỉ cần một bước nhỏ dẫn đưa họ đến với Chúa, chị em sẽ được thưởng một bậc cao hơn trong vinh quang đời đời|”.

THỰC HÀNH CỤ THỂ

1. Tập quan sát thái độ của ta đối với người khác để điều chỉnh. Chẳng hạn đối tượng nào hay làm cho ta khó chịu, gắt gỏng…Có phải là những người ta không thích, những người yếu thế hơn, kém thông minh…. Chúa nói nếu ta chỉ yêu thương những kẻ yêu thương mình thì nào được ích gì?

2. Tập tôn trọng những người bên cạnh mình, khiêm tốn để thấy nét đẹp, sự phong phú nơi người khác.

3. Luôn ý thức bổn phận đem người khác đến với Chúa Giêsu, bằng sự khôn ngoan tận dụng mọi giây phút làm cho họ biết Chúa.

III. NHIỆT THÀNH VỚI CHÍNH MÌNH: 

Biết rõ giá trị cao quí của sứ mạng được trao, đồng thời ý thức giới hạn trong bản tính nhân loại của mình, người nữ tu nhiệt thành không ngừng tu luyện, trao dồi những đức tính căn bản cần thiết nhất cho việc rao giảng Tin Mừng như: khiêm tốn, hiền lành, nhịn nhục, hy sinh…

Sự khiêm tốn: Đức Cha Tổ Phụ đã dạy: “Đức khiêm nhường là nền mọi nhân đức, xưa nay ai cũng từng nghe. Vậy hãy ân cần tập đức ấy. Dẫu mình tài năng trí tuệ, cũng đừng nghĩ mình hơn ai, đừng mong cho được nên vị này, vị nọ. Dù mình được làm vai gì, cũng phải nghĩ mình là tôi tớ chị em… Phải nhớ câu: Chúa hằng chống cự kẻ kiêu căng, mà ban ơn cho người khiêm nhường[11]. Sự khiêm tốn giúp hăng say và trung thành trong công việc. Người khiêm nhường biết rõ khả năng cũng như thân phận con người giới hạn mỏng manh của mình, nên dễ mở rộng tâm hồn cho Chúa Thánh Thần hoat động. Họ chấp nhận hy sinh vì sứ mạng, không lo âu thất bại cũng như nóng giận trước những điều trái ý, đón nhận mọi thành quả trong niềm tin tưởng phó thác. Là người biết dấn thân không mệt mỏi, xóa mình vì tha nhân và sẵn sàng rút lui khi cần, “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi” .

Đức nhịn nhục: Bổn phận của chúng ta là phải trình bày niềm vui và hy vọng cho thế giới, nhưng không phải theo cách thế của kẻ kiêu căng ngạo mạn, thích chống đối, chỉ trích, tiêu cực… trong thư thứ 2 của thánh Phaolo tông đồ gởi cho Timothe (2Tm 2,24. 4,2) “người tông đồ thì không được cãi cọ, nhưng phải dịu dàng với mọi người… biết chịu đựng gian khổ. Người ấy phải lấy lòng hiền hòa mà giáo dục những kẻ chống đối… Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng lúc thuận lợi cũng như lúc không thuận lợi; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ|”. ĐCTP: “Hàng ngày chị em phải tập đức chịu khó, trí khôn phải chịu khó, thân xác phải chịu khó, cái gì cũng phải rán sức làm cho hết tài hết lực Chúa ban, đừng làm qua loa cho hết thời buổi…Phải bỏ tính hay chấp nhất, lấy ý mình làm hơn, lấy điều mình muốn làm phải, mà không muốn nhường ý ai, dù ý bề trên cũng chẳng nể. Như thế thiếu cả đức hãm mình, cả đức khiêm nhường… vậy kẻ biết hãm mình dẹp xác… thì vui lòng chịu vì Chúa… lập được nhiều công đức thể nào…”[12]

Hy Sinh Khổ Chế: Người nữ tu của Chúa phải là người rất thuần thục trong việc góp nhặt những hy sinh trong bổn phận hằng ngày. Nhờ học hỏi và tập luyện, họ hiểu rõ giá trị công việc mình làm. Những vất vả, cực nhọc không gây nản chí sờn lòng, nhưng là cơ hội giúp chúng ta thêm kiên tâm bền chí. Người nhiệt thành không bao giờ kêu la, phản kháng hay càm ràm kêu trách nhưng biết nội tâm hóa để mọi sự sinh hoa kết trái là lợi ích cho các linh hồn được trao phó cho mình.

Trong hành trình thực thi sứ mạng không thiếu những gian nan vất vả, nhưng cái khó nhất vẫn là cuộc chiến với chính mình, chiến đấu để sống công bằng, bác ái và yêu thương, chiến đấu để không thiên vị người này hơn người kia kém, chiến đấu để chống lại những bất hòa chia rẽ… Nhưng cuối cùng vẫn là cảm nghiệm thật sâu nỗi khốn cùng của thân phận con người để biết hạ mình đúng mức[13], tạo điều kiện thuận lợi cho quyền năng và ân sủng của Thiên Chúa hoạt động.

THỰC HÀNH CỤ THỂ

1. Khiêm nhường là người có khả năng nhìn  sự thật về mình, sống thật, không đeo mặt nạ. Hãy học cùng ta vi ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.

2. Để biết nhịn nhục, chúng ta tập sẵn sàng đón nhận những trái ý nho nhỏ hằng ngày với ý hướng tập luyện.

3. Tập khổ chế bằng cách ý thức thu góp những hy sinh bé nhỏ để cầu nguyện cho các linh hồn đặc biệt những người trong bổn phận của chúng ta.

KẾT LUẬN:

Hơn ai hết, chúng ta có một mẫu giương của lòng nhiệt thành tông đồ là Đức Trinh nữ Maria. Nơi Mẹ, luôn rực cháy một ngọn lửa mến yêu Thiên Chúa, hết lòng  phục vụ tha nhân. Mẹ luôn “suy nghĩ” trong lòng để điều chỉnh con người mình theo ý Thiên Chúa. Xin Mẹ Mân Côi cầu thay nguyện giúp để chúng ta luôn trở thành người môn đệ đầy nhiệt huyết, dấn thân không ngừng vì Nước Trời.

M. Clara Nguyễn Thị Thảo



[1] Thư Định Hướng Đầu Niên Học 2016-2017, Để Người Sai Đi 

[2] PHAOLÔ VI, Tông Huấn  Loan Báo Tin Mừng, 80

[3] “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, ta đã biết ngươi, trước khi ngươi lọt lòng Mẹ ta đã thánh hóa ngươi. Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân” (Gr1,4)

[4] Đức Thánh Cha Phanxinco, NVTM, số 275

[5] “Chúng ta có một kho tàng sự sống và tình yêu không thể lừa dối, và một sứ điệp không thể làm chúng ta lạc đường hay thất vọng. Nó thấm nhập tận thâm cung lòng chúng ta, nâng đỡ và làm chúng ta thêm cao quí. Nó là một chân lý không bao giờ lỗi thời vì nó chạm đến phần trong con người chúng ta mà không gì khác chạm đến được. Cảm giác buồn sầu vô hạn của chúng ta chỉ có thể được chữa lành bởi một tình yêu vô biên”. Đức Thánh Cha Phanxinco, NVTM, số 265b

[6] Nếu Ðức Kitô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng” (1 Cr 15:14).

[7] NIỀM VUI TIN MỪNG SỐ 263.

[8] Nouwen là tác giả thiêng liêng được ưa chuộng nhất của cuối thế kỷ 20 và sách của cha vẫn được chuộng cho đến ngày hôm nay. Tác phẩm nổi tiếng “The Return of the Prodigal Son: A Story of Homecoming” kể lại kinh nghiệm thiêng liêng của cha khi ngắm nhìn bức tranh của Rembrandt.

[9] Truyền giáo là một niềm say mê Đức Giêsu, vừa đồng thời say mê dân Ngài. Đứng trước Đức Giêsu chịu đóng đinh, chúng ta thấy được chiều sâu tình yêu của Ngài, tình yêu nâng chúng ta lên và kiện cường chúng ta, nhưng đồng thời, chúng ta cũng bắt đầu nhận ra rằng cái nhìn cháy bỏng yêu thương của Đức Giêsu mở ra ôm ấp toàn thể dân của Ngài. Chúng ta một lần nữa nhận ra rằng Ngài muốn chúng ta đến gần với dân yêu dấu của Ngài hơn. Ngài chọn chúng ta từ giữa dân của Ngài và sai chúng ta đến với dân của Ngài. NVTM số 268

[10] Vì không luôn luôn nhìn thấy các hạt giống này lớn lên, chúng ta cần có một sự chắc chắn nội tâm, một niềm xác tín rằng Thiên Chúa có khả năng hành động trong mọi tình huống, ngay cả giữa những cái bề ngoài có vẻ là thất bại: “chúng tôi chứa đựng kho tàng này trong những bình sành” (2 Cr 4:7). Niềm tin chắc này thường được gọi là “một cảm thức về mầu nhiệm”. Đó là biết một cách chắc chắn rằng tất cả những ai tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa trong tình yêu sẽ sinh nhiều hoa trái (xem Ga 15:5). (NVTM 279).

[11] GSI, tr.98

[12] GSI,tr.101-102

[13] Gc4,9